Việt Nam từ nhóm 20 nước nghèo nhất đến nền kinh tế lớn thứ 32 thế giới
Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam từ một quốc gia xếp trong nhóm 20 nước nghèo nhất thế giới, đã vào nhóm 32 nền kinh tế lớn nhất thế giới và 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài.
Theo báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới 40 năm qua ở Việt Nam, nhìn lại bối cảnh trước đổi mới, Việt Nam là một nước nghèo, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, cuối những năm 70, đầu những năm 80 của thế kỷ XX, khủng hoảng kinh tế – xã hội diễn ra gay gắt.
Từ khủng hoảng lạm phát đến nền kinh tế 510 tỷ USD
Trong khoảng 10 năm sau thống nhất đất nước (1975-1985), thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam chỉ dao động từ 125 đến 200 USD/năm và xếp trong nhóm 20 nước nghèo nhất thế giới, tỉ lệ lạm phát thời điểm tháng 12/1986 lên đến 774,7%.
Một trong những nguyên nhân của tình trạng đó đã được chỉ rõ tại Đại hội lần thứ VI của Đảng là do những sai lầm nghiêm trọng về chủ trương, chính sách lớn, về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện, đặc biệt là bệnh chủ quan duy ý chí, lạc hậu về nhận thức lý luận và sự yếu kém của việc vận dụng các quy luật trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta.

Giai đoạn 10 năm đầu đổi mới (1986-1995) trong điều kiện bị bao vây, cấm vận, đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, vượt qua khó khăn từ vấn đề Campuchia, bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc và Mỹ, các tổ chức quốc tế và các nước trong khu vực Đông Nam Á, gia nhập ASEAN, cơ bản hoàn thành những nhiệm vụ của chặng đường đầu của thời kỳ quá độ, chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nền kinh tế nước ta đã khắc phục được tình trạng trì trệ, suy thoái; đạt mức tăng trưởng khá cao, liên tục và tương đối toàn diện.
Trong 10 năm tiếp theo (1996-2005), về cơ bản, tình hình đất nước ổn định; các khó khăn, thách thức dần được khắc phục. Thế và lực, sức mạnh tổng hợp của đất nước đã tăng lên. Tích lũy nội bộ của nền kinh tế từ mức không đáng kể, đến năm 2000 đã đạt 27% GDP. Từ tình trạng hàng hóa khan hiếm nghiêm trọng, sản xuất đã đáp ứng được các nhu cầu thiết yếu của nhân dân và nền kinh tế, tăng xuất khẩu và có dự trữ. Kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội phát triển nhanh. Cơ cấu kinh tế có bước chuyển dịch tích cực. Quan hệ sản xuất đã có bước đổi mới phù hợp hơn với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và thúc đẩy sự hình thành nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Trong 10 năm (2006-2015), đất nước ta đã chính thức trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình thấp, chính trị-xã hội ổn định, an sinh xã hội được bảo đảm. Nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng khá, vượt qua những tác động bất lợi của khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu và phát triển tương đối toàn diện. Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong 30 năm đầu đổi mới trung bình gần 7%/năm, trong đó có 7 năm trên 8% và 2 năm trên 9%.
Giai đoạn 1991-2016, giá trị xuất khẩu tăng gấp 60,38 lần, nhập khẩu tăng 80,41 lần. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Một số sản phẩm đã có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Cũng trong giai đoạn này, đất nước ta đẩy mạnh hội nhập toàn diện: Việt Nam đăng cai APEC (năm 2006), gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới – WTO (năm 2007), lần đầu tiên đảm nhiệm thành công vị trí Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2008-2009), đảm nhiệm năm Chủ tịch ASEAN (năm 2010).
Trong 10 năm gần đây (2016-2025), nền kinh tế đất nước đã có sự chuyển biến tích cực, toàn diện trên nhiều lĩnh vực. Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát luôn được kiểm soát ở mức thấp; các cân đối lớn của nền kinh tế cơ bản được bảo đảm; nợ công giảm, nợ xấu được kiểm soát. Mặc dù chịu ảnh hưởng bởi nhiều biến động không thuận từ môi trường quốc tế, nhưng tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2016-2025 đạt khoảng 6,2%/năm. Quy mô nền kinh tế và thu nhập bình quân đầu người tăng gần gấp đôi, đạt tương ứng trên 510 tỷ USD và trên 5.000 USD/người. Chất lượng tăng trưởng được cải thiện, năng suất lao động tăng từ 4,3%/năm giai đoạn 2011-2015 lên khoảng 6%/năm giai đoạn 2016-2020.
Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam có quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư với 224 thị trường tại tất cả châu lục; đẩy mạnh hội nhập quốc tế, tham gia hơn 500 hiệp định song phương và đa phương trên nhiều lĩnh vực, thu hút một lượng lớn vốn FDI. Đến nay, Việt Nam vào nhóm 32 nền kinh tế lớn nhất thế giới và 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài.
Tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026-2030
Bên cạnh những kết quả nêu trên, báo cáo cũng chỉ ra những thách thức lớn. Trong đó, nền kinh tế vẫn đứng trước nguy cơ tụt hậu, khả năng rơi vào bẫy thu nhập trung bình còn lớn, tốc độ tăng trưởng bình quân giảm dần qua các kỳ đại hội, phát triển thiếu bền vững; năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh còn thấp, trình độ khoa học và công nghệ và nhân lực chất lượng cao còn nhiều hạn chế.

Ngoài ra, quá trình hội nhập quốc tế càng sâu rộng đồng nghĩa với kinh tế Việt Nam đứng trước thách thức chịu tác động trực tiếp, nhanh chóng từ những biến động từ bên ngoài, từ những biến động trên thị trường khu vực, thế giới như giá cả, lãi suất, tỉ giá của các đồng tiền, những thay đổi của các luồng hàng hóa, tài chính, đầu tư quốc tế và nghiêm trọng hơn là chịu sự tác động, ảnh hưởng rất nhanh của các cú sốc, các cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính khu vực và trên thế giới.
Đồng thời, những bất ổn của thế giới, xung đột gia tăng, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt và trực diện… gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng đến tiến trình toàn cầu hóa, giảm tính cạnh tranh lành mạnh trong thương mại toàn cầu, gây thiệt hại đến tăng trưởng kinh tế toàn cầu, vai trò của các thể chế đa phương bị suy giảm, tác động nhiều mặt đến nền kinh tế Việt Nam.
Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam chuyển từ tình trạng đói nghèo, lạc hậu sang nhóm nước đang phát triển thu nhập trung bình cao, với tiềm lực và vị thế quốc tế được nâng lên.
Các thị trường vốn, trái phiếu doanh nghiệp từng bước trở thành kênh huy động vốn quan trọng cho doanh nghiệp. Chứng khoán, bảo hiểm tiếp tục phát triển; bất động sản mở rộng cả về quy mô và loại hình sản phẩm. Thị trường lao động mở rộng quy mô và nâng chất lượng; khoa học, công nghệ tiến triển, gắn kết sâu hơn với khu vực và thế giới.
Dù vậy, thể chế phát triển kinh tế vẫn còn quy định chồng chéo, gây khó khăn cho sản xuất kinh doanh. Các thành phần kinh tế phát triển chưa đạt kỳ vọng; vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước chưa phát huy đầy đủ; kinh tế tư nhân chưa bền vững; khu vực vốn đầu tư nước ngoài chưa tạo hiệu ứng lan tỏa như mong muốn. Mô hình tăng trưởng chưa dựa vững chắc trên nền tảng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Trong giai đoạn tới, bối cảnh quốc tế được dự báo tiếp tục phức tạp; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng; cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư làm thay đổi sâu sắc cơ cấu và phương thức sản xuất.
Ở trong nước, mục tiêu đến năm 2030 là nước thu nhập trung bình cao với quy mô GDP 900 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người 8.500 USD; đến năm 2045 GDP đạt 2.500 tỷ USD, nền giáo dục vào nhóm 10 nước tốt nhất châu Á.
Định hướng chung là tiếp tục kiên định đổi mới toàn diện; cơ cấu lại nền kinh tế, xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026-2030; đến năm 2030 là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Để đạt mục tiêu, công tác xây dựng và thi hành pháp luật sẽ tiếp tục đổi mới mạnh mẽ; giữ ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn. Nhà nước sẽ thực hiện hiệu quả cơ chế thu hút, trọng dụng nhân tài; phát huy các động lực tăng trưởng mới như chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn.
Kinh tế nhà nước được định hướng “thật sự giữ vai trò chủ đạo”, đồng thời tạo điều kiện để kinh tế tư nhân thực sự là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, chú trọng phát triển các tập đoàn tư nhân lớn. Đầu tư nước ngoài được thu hút có chọn lọc, ưu tiên công nghệ cao; công nghiệp quốc phòng, an ninh phát triển theo hướng lưỡng dụng, hiện đại.
Mục tiêu 2 mốc 100 năm tiếp tục được đặt trong nền tảng tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, đoàn kết và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Đến năm 2030, đất nước thực hiện chính sách cơ bản miễn viện phí toàn dân.
Tác giả: Tuệ Lâm
Nguồn: vietnamfinance.vn